WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

WRITE POST TITLE HERE...

WRITE POST DESCRIPTION HERE...

16 tháng 12, 2011

Phim tài liệu : giải cứu binh nhì Tiến Nam

0


Trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra vào sáng chủ nhật, 03/07, khi đoàn biểu tình tuần hành qua Nhà Hát Lớn thì bất ngờ xảy ra sự kiện CA bắt người vô cớ. Người gặp nạn là bạn Nguyễn Tiến Nam. Ngay khi được thông báo có người bị bắt, đoàn biểu tình lập tức quay trở lại, đồng thời vây kín trụ sở CA nhằm áp lực phải thả người yêu nước.





Nguồn: Youtube

Read more

12 tháng 12, 2011

Không thể sử dụng bạo lực (Iris Vinh Hayes)

0

Có không ít người vẫn đặt niềm tin vào sức mạnh bạo lực trong cách mạng để thay đổi xã hội. Và như Huỳnh Thục Vy đã nhận xét, “dường như khi nói đến cách mạng chúng ta luôn liên tưởng ngay đến bạo lực. Những ai từng ngồi trong nhà trường xã hội chủ nghĩa đều thấm nhuần quan điểm rằng: bạo lực cách mạng là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu của việc giành chính quyền. (Cách mạng: bạo động hay bất bạo động - Hoàng Thục Vy) Cô cũng đã viết, “chỉ nhằm trình bày quan điểm và những ưu tư của cá nhân tôi. Chúng tôi – thế hệ 8x, vẫn còn quá trẻ để có một tầm nhìn mang tính chiến lược về con đường dân chủ hóa Việt Nam. Thế nên, chúng tôi trông cậy rất nhiều vào những bậc trưởng thượng – những người sẽ vạch ra con đường và dẫn dắt chúng tôi, để từ đó chúng tôi có cơ hội đóng góp sức mình cho đất nước và biết được mình sẽ phải làm những gì. Bởi nếu những người đi trước nhầm đường thì cả dân tộc sẽ khốn đốn và những người trẻ chúng tôi sẽ gặp thảm họa.” Những ưu tư này của cô cần phải được hồi đáp với tất cả sự trân trọng và thận trọng. (Ai dám nói tuổi trẻ Việt Nam thiếu trí tuệ? Ai dám nói tuổi trẻ Việt Nam thờ ơ trước vận nước? Tuyệt vời quá đứa em thuộc thế hệ 8x!).

Không dám nhận mình là bậc trưởng thượng, nhưng là một người thuộc thế hệ trước thế hệ 8x khá xa, tôi muốn nói với Huỳnh Thục Vy và tất những đứa em thân thương của tôi thuộc lớp người trẻ rằng: ĐỪNG TIN VÀO SỨC MẠNH CỦA BẠO LỰC!  Họ đã hoàn toàn sai khi cho rằng “bạo lực cách mạng là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu của việc giành chính quyền.” Đó chỉ là kinh nghiệm của quá khứ. Sự vận hành của thế giới ngày hôm nay đã khác xa ngày trước. Sự thay đổi đó đã mở ra cơ hội để cho chúng ta có được sự lựa chọn khác. Nhân dân có thể giành được chính quyền từ tay bọn độc tài chuyên chế mà không cần sử dụng đến bạo lực. Thêm vào đó, họ cũng đã từng hoàn toàn sai khi chọn con đường bạo lực để giành chính quyền. Tại sao sai? Nếu họ đúng thì chúng ta không nói đến chuyện xuống đường làm cách mạng ngày hôm nay, có đúng thế không? Họ sai là vì mục tiêu đích thực của cách mạng là để mang đến những thay đổi tốt đẹp hơn cho xã hội, không phải chỉ để giành chính quyền. Và một khi sử dụng bạo lực để giành được chính quyền thì cơ hội để mang đến những thay đổi tốt đẹp hơn sẽ lập tức bốc hơi. Sau khi đã giành được chính quyền bằng bạo lực, máu vẫn tiếp tục chảy, một cùm gông mới nặng hơn lại áp đặt lên đất nước, đêm càng đen hơn và dài hơn trước, thân phận con người càng đáng thương hơn trước. Bạo lực trong cách mạng đã để lại những di sản tồi tệ nếu không muốn nói là kinh hoàng trong tiến trình tìm kiếm hạnh phúc của nhân loại. Tồi tệ nhất và kinh hoàng nhất là làn sóng bạo lực do cộng sản gây ra. Ngần ấy bằng chứng chẳng lẽ không đủ để thuyết phục chúng ta ĐỪNG TIN VÀO SỨC MẠNH CỦA BẠO LỰC?


Cho những ai vẫn cảm thấy chưa đủ thuyết phục từ bỏ ý nghĩ sử dụng bạo lực để đối kháng bạo lực, tôi xin trình bày thêm:

• Dùng cái cứng để đối chọi với cái cứng hơn thì nhất định sẽ bị cái cứng hơn nghiền nát. Đây là định luật tự nhiên. Khi đối phương có sức mạnh bạo lực hơn ta ngàn vạn lần, sử dụng bạo lực để đối kháng là một hạ sách nhất định sẽ dẫn tới nhiều tử vong và cuối cùng là thua cuộc. Đó là lý do thứ nhất tại sao không thể sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền.

• Dùng sức mạnh bạo lực để đối kháng với một sức mạnh bạo lực mạnh mẽ hơn nhiều nhằm tạo ra kẻ hở rồi nương theo đó giành thắng lợi không phải là không khả thi trong đối kháng chính trị. Nhưng khi bạo lực được vận dụng để “làm cách mạng” (mở rộng và đẩy tới chỗ cực đoan) thì đấu tranh chính trị có nguy cơ biến thành nội chiến, một lỗi lầm mà nhân loại đã có rất nhiều bài học và VN cũng đã từng trải qua. Nội chiến là một cái giá rất đắt phải trả để đạt mục tiêu chính trị, nếu may mắn đạt được. Đó là lý do thứ hai tại sao không thể sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền.

• Trong những cuộc biểu tình chống độc tài, nhà cầm quyền luôn luôn chủ động dẫn dụ đám đông xuống đường đi vào chiếc bẫy “bạo động” để biến họ từ danh nghĩa là những “công dân xuống đường đòi quyền sống được hiến pháp bảo vệ” thành ra “đám người cướp bóc/phiến loạn đe doạ trật tự xã hội và an ninh quốc gia” rồi tiến hành “trừng trị thẳng tay theo pháp lý và ý chí của nhà cầm quyền.” Phản kháng bằng bạo lực–dù rằng vì lý do tự vệ trước sự đàn áp mạnh tay của nhà cầm quyền–là tự đưa đầu vào cái bẫy rập của đối phương, là cho họ cơ hội để mạnh tay đàn áp, là cho họ “viên thuốc an thần” để họ không bị mặc cảm tội lỗi khi ra tay tàn sát quần chúng. Đó là lý do thứ ba tại sao không thể sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền.

• Bạo lực của nhà cầm quyền có thể gây ra tử vong cho biển người phản kháng bất bạo động, nhưng con số tử vong đó chắc chắn là sẽ ít hơn rất xa so với phương cách phản kháng bạo động. Phía nhà cầm quyền càng sử dụng sức mạnh của bạo lực để đàn áp “biển người phản kháng bất bạo động” bao nhiêu thì sức mạnh và chính nghĩa của quần chúng càng gia tăng bấy nhiêu. Phía nhà cầm quyền càng sử dụng sức mạnh bạo lực để đàn áp “biển người phản kháng bất bạo động” thì tiếng vang của sự kiện càng bay xa và đôi mắt của quần chúng trong nước cũng như của toàn thế giới càng dán chặt vào đó. Con số tử vong của quần chúng phản kháng bất bạo động do phía chính quyền gây ra cho họ càng cao bao nhiêu thì sự phẫn nộ của nhân dân trong nước và sự hỗ trợ của thế giới bên ngoài dành cho quần chúng phản kháng bất bạo động càng cao bấy nhiêu. Có được sự phẫn nộ và đồng tình cao độ của nhân dân trong nước, thì biển người phản kháng càng lúc sẽ càng to. Có được sự hỗ trợ của mọi người trên toàn thế giới thì cuộc cách mạnh càng có cơ hội thành công. Nội ngoại hợp công càng mạnh mẽ bao nhiêu thì thời gian để giành được chính quyền từ tay của bọn độc tài càng rút ngắn bấy nhiêu. Đó là lý do thứ tư tại sao không thể sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền.

• Những cuộc cách mạng ít hao tổn xương máu nhất, mở ra và khép lại trong thời gian ngắn nhất, và cho những thành quả lạc quan nhất chính là những cuộc cách mạng bất bạo động. Đây là sự thật, không phải nói theo cảm tính. Đó là lý do thứ năm tại sao không thể sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền.

Tôi tin chắc là còn có thể đưa ra thêm nhiều lý do nữa nhưng thiết nghĩ bao nhiêu đó cũng đã quá nhiều để chúng ta ĐỪNG TIN VÀO SỨC MẠNH CỦA BẠO LỰC.

Cái mà quần chúng cần làm trong những cuộc xuống đường là: BIỂN NGƯỜI + BẤT BẠO ĐỘNG + KHÔNG KHOAN NHƯỢNG CÁI XẤU ÁC.  Đây mới chính là một công thức khả thi và cho nhiều cơ hội. Đây mới chính là phương án đấu tranh để tạo ra sự thay đổi lớn cho xã hội theo đường hướng có lợi cho đất nước và đồng thời giảm thiểu thiệt hại cho quần chúng tới mức thấp nhất. Nên nhớ rằng: để có thể xây dựng được một quốc gia lý tưởng (là mục tiêu đích thực của cuộc cách mạng) mọi người phải kiên quyết khước từ sử dụng bạo lực ngay từ giờ phút đầu của cuộc cách mạng. Phương án BIỂN NGƯỜI + BẤT BẠO ĐỘNG + KHÔNG KHOAN NHƯỢNG CÁI XẤU ÁC được đề ra không phải là chính trị “lãng mạn” mà là một tính toán “chính lược” (và nếu tinh ý các bạn sẽ thấy tôi đã chọn không sử dụng ngay cả chữ chiến lược cũng vì cái hàm ý chiến tranh và bạo lực chứa đựng trong nó).

Để mở ra một vận hội mới cho đất nước nhằm kiến tạo một quốc gia lý tưởng trên nền tảng tự do & dân chủ & nhân bản thì quần chúng không những phải tin vào sức mạnh của yếu tố NHÂN BẢN mà còn phải thực hành nó với chủ trương BẤT BẠO ĐỘNG ngay từ lúc đầu; không những phải tin vào sức mạnh của yếu tố ĐOÀN KẾT mà còn phải thực hành ĐẠI ĐOÀN KẾT với phương pháp đấu tranh BIỂN NGƯỜI ngay từ lúc đầu; không những phải tin vào yếu tố XÁC LẬP QUYỀN LỰC CỦA NGƯỜI DÂN BẰNG CHÍNH SỨC MẠNH CỦA TOÀN DÂN mà còn phải thực hành nó với ý chí KHÔNG KHOAN NHƯỢNG CÁI XẤU ÁC ngay từ lúc đầu. Nói và làm cần làm phải đi đôi, nhất định phải đi đôi, từ đầu cho đến cuối. Nếu quần chúng không làm được những điều này thì vận hội mới hãy còn rất xa.

Nhân dân cần phẫn nộ, nên phẫn nộ, phải phẫn nộ khi mà GIỚI HẠN CỦA SỰ NHẪN NHỤC ĐÃ BỊ PHÁ VỠ trước thực trạng “mạng sống của dân đã bị coi thua súc vật, tài sản của dân đã bị tước đoạt dễ như lấy đồ trong túi, tôn nghiêm của dân đã bị chà đạp quá đáng.” Phẫn nộ để đứng lên tham gia vào nền chính trị của đất nước một cách tích cực và cụ thể nhằm tái lập một cơ chế điều hành đất nước của dân, do dân và cho dân.

Phẫn nộ để đứng lên tham gia vào nền chính trị của đất nước một cách tích cực và cụ thể nhằm tái lập một xã hội văn minh và thiện đức. Nếu một người không còn biết phẫn nộ trước độc tài chuyên chế, trước tham nhũng lũng đoạn, trước trấn lột cưỡng đoạt, trước dối gian bưng bít, trước gian ngoa xảo quyệt, trước khủng bố bạo hành, trước bất chính bất minh, trước tham lam tráo trở, trước những cái xấu ác thì con người đó coi như chỉ là một xác chết biết đi, một người máy không có cảm tính của nhân loài. Nhưng sự phẫn nộ của quần chúng không có nghĩa là cho phép ai đó lợi dụng và dẫn dắt quần chúng tới chỗ sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền, không có nghĩa là quần chúng nên sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền, không có nghĩa là sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền sẽ cho quần chúng được ưu thế, không có nghĩa là sử dụng bạo lực để đối kháng với bạo lực của nhà cầm quyền sẽ giúp giảm thiểu tử vong của quần chúng.

Nhân dân cần phẫn nộ, nên phẫn nộ, phải phẫn nộ khi mà GIỚI HẠN CỦA SỰ NHẪN NHỤC ĐÃ BỊ PHÁ VỠ trước thực trạng “mạng sống của dân đã bị coi thua súc vật, tài sản của dân đã bị tước đoạt dễ như lấy đồ trong túi, tôn nghiêm của dân đã bị chà đạp quá đáng.”  Phẫn nộ nhưng đừng thù hận và đừng bạo hành. Ngược lại, càng phẫn nộ vì những cái xấu ác đang diễn ra trước mặt thì chúng ta càng phải hiểu rõ chính cái yếu tính bạo lực, chính cái chủ thuyết đầy bạo lực, chính cái cơ chế được xây dựng từ nền tảng của bạo lực là cái gốc đã sản sinh ra những thứ xấu ác đó và vì thế càng phải ra sức triệt hạ cái gốc rễ bạo lực để tái lập một xã hội mới, một quốc gia mới nhân bản hơn, tự do hơn, dân chủ hơn, phồn thịnh hơn, công bằng hơn, ổn định hơn, tốt đẹp hơn.

Càng phẫn nộ vì những cái xấu ác đang diễn ra trước mặt thì chúng ta càng phải thương hơn và cảm thông hơn cho thân phận của con người trên một đất nước mà tất cả mọi người đều trở thành là nạn nhân của một guồng máy cai trị được nặn ra từ bạo lực và tiếp tục vận hành bằng bạo lực. Đảng viên, công nhân viên, quân đội, công an, cảnh sát, thường dân . . . tất cả đều là nạn nhân, đều cần được giải phóng khỏi guồng máy bạo lực.  Đúng, chính là họ đã ra tay đàn áp và chà đạp quần chúng nhưng đồng thời chính họ cũng là nạn nhân bị cầm tù trong cái guồng máy bạo lực mà họ thừa hành mệnh lệnh. Đúng, ĐCSVN đã cai trị quốc gia này và gây ra những hệ lụy tiêu cực lớn lao cho quốc gia này nhưng chính đảng viên của ĐCSVN cũng là nạn nhân bị cầm tù trong chính cái cơ chế mà họ phục vụ.

Toàn dân cần phẫn nộ, nên phẫn nộ, phải phẫn nộ và biến sự phẫn nộ của mình thành hành động. Phẫn nộ nhưng không nên xuẩn động để tự sát xuyên qua con đường bạo lực. Phải hành động để thắng chế độ độc tài chứ không phải xuẩn động để cho họ cơ hội tiêu diệt. Thắng bằng những thứ sức mạnh mà toàn dân có được ngược lại cơ chế độc tài toàn trị hoàn toàn không có và không thể có.

Đúng, Huỳnh Thục Vy đã nói đúng. Nếu những người đi trước nhầm đường thì cả dân tộc sẽ khốn đốn và những đi theo sẽ gặp thảm họa. Vì thế cho nên, 1001 Ghonim của Việt Nam sắp hiện thân lãnh đạo là “những người đi trước” để dẫn đường quần chúng cần phải lắng nghe những ưu tư này và cần phải cân nhắc thận trọng để chọn lựa một phương án hành động. Với tư cách cá nhân, tôi không ngại để tỏ rõ ý kiến của mình:

DỨT KHOÁT KHÔNG THỂ SỬ DỤNG BẠO LỰC.

Iris Vinh Hayes


Nguồn: Đàn Chim Việt

Read more

10 tháng 12, 2011

Bản vẽ cho cuộc cách mạng (Trần Quốc Việt)

0

1. Hãy nghiên cứu kỹ: tức phân tích những trụ ủng hộ ta muốn kéo về phía ta ("những trụ" ở đây có nghĩa là những thể chế và tổ chức rất quan trọng cho sự thay đổi xã hội bằng bất bạo động). 2. Đề ra một viễn kiến rõ ràng cùng với chiến lược cho cuộc đấu tranh -đừng lắng nghe lời khuyên từ nước ngoài. 3. Xây dựng sự đoàn kết trong phong trào - đoàn kết về mục đích, đoàn kết trong nhân dân, và đoàn kết trong tổ chức. 4. Duy trì sự tuân thủ bất bạo động - một hành động bạo động thôi có thể làm mất đi uy tín của cuộc đấu tranh. 5. Luôn luôn ở thế tấn công, hãy chọn những trận đánh ta có thể thắng và chắc chắn ta biết khi nào và làm thế nào công bố chiến thắng.

Vào tháng Mười năm 2000, với lòng khao khát được sống một cuộc sống dân chủ một nhóm sinh viên trường đại học tổng hợp Belgrade đã góp phần lật đổ ách cai trị của nhà độc tài khát máu nhất ở Châu Âu, Slobodan Milosevic. 

Ảnh hưởng lên họ là Gandhi, Martin Luther King, và công trình nghiên cứu của giáo sư đại học Mỹ và bậc thầy về phản kháng bất bạo động, Gene Sharp. Họ áp dụng những chiến thuật đơn giản nhưng hiệu quả: dùng điện thoại di động, khẩu hiệu và sự hài hước đường phố kiểu Monty Phython. Nhưng bí quyết của họ chính là phương pháp: đoàn kết, kế hoạch và tuân thủ bất bạo động. Dùng chiến thuật bộ ba này, họ đã đoàn kết được một nước Serbia vốn chia rẽ về chính trị để cùng nhau hợp tác cho mục tiêu chung. 

Những nhà hoạt động dân chủ huyền thoại này -những người gọi mình là Otpor, tiếng Serbia nghĩa là "phản kháng"- đã qua thời sinh viên và cũng qua thời ngồi trong quán cà phê "châm chọc chính quyền". Hôm nay nhiều người trong số họ thành nghị sĩ; nhiều người khác là bộ trưởng. Nhưng một số người trong nhóm sinh viên ngày xưa ấy tiếp tục lập ra Trung tâm Chiến lược Bất bạo động Ứng dụng, còn thường gọi là Canvas, một tổ chức hướng dẫn các nhà hoạt động dân chủ trên khắp thế giới cách thức lật đổ thành công chế độ độc tài. 

Cuộc cách mạng của lớp trẻ Serbia đã trở thành tiêu chuẩn mẫu mực cho cuộc đấu tranh ôn hoà bất bạo động. Canvas chỉ làm việc với những nhóm không có lịch sử bạo động: chẳng hạn, họ từ chối làm việc với Hamas hay Hizbollah. Nhưng họ coi Georgia, Ukraine và Maldives (nơi họ giúp các nhà bất đồng chính kiến chấm dứt 30 năm cai trị của Maumoon Abdul Gayoom) là những câu chuyện thành công, và làm việc với các nhà hoạt động dân chủ từ gần 50 quốc gia, bao gồm Iran, Zimbabwe, Miến Điện, Venezuela, Belarus và, gần đây, Tunisia và Ai Cập. 

Canvas được điều hành bởi đôi bạn thân nhất từ những ngày Otpor, Srdja Popovic, 38 tuổi, và Slobodan Djinovic, 36 tuổi. Khó có ai nghĩ rằng họ là cặp bài trùng. Popovic là người cao gầy và rụt rè, được đào tạo thành nhà sinh vật học nước ngọt:"Cá mập bơi khi nó ngủ, nếu nó ngừng bơi, nó chết," anh nói."Cá mập chỉ bơi tới. Ta phải làm sao cho các cuộc cách mạng không ngừng tiến lên." 

Djinovic từng là cựu cầu thủ bóng rỗ, điển trai, có bằng thạc sĩ về quan hệ quốc tế ở phân khoa Luật pháp và Ngoại giao Fletcher tại Mỹ, có vẻ tự chủ và tự tin. Anh thành lập công ty cung cấp dịch vụ internet không dây đầu tiên ở Serbia và có thể trở thành trùm Silicon Valley ở Serbia nếu anh muốn, nhưng thay vì thế anh cho phân nửa tiền kiếm được để duy trì Canvas (Nửa kia được các tổ chức phi chính phủ và Liên hiệp Quốc tài trợ.) "Tôi có thể là đại gia cỡ như thế diện côm lê, lui tới các câu lạc bộ như mong muốn của mẹ tôi và vợ, " Djinovic thổ lộ," nhưng tôi không thể như thế. Sau khi nhìn thấy và làm được điều chúng tôi đã làm." 

Giống như đa phần những người thuộc thế hệ Otpor, đôi bạn lớn lên trong thời Tito thanh bình ngày xưa, thời "chủ nghĩa xã hội nhẹ" khi họ mặc quần jean xanh, uống Coca-Cola và có những chuyến du lịch sang Hy Lạp. Khi các cuộc chiến tranh khốc liệt ở Nam Tư bắt đầu vào năm 1991 họ ở vào lứa tuổi 18 và 16, độ tuổi đủ chín chắn để biết họ phải cần loại bỏ Milosevich. Ngày nay, họ muốn đem kiến thức của mình truyền bá ra khắp thế giới. 

Hoài bão này được thực hiện với đội ngũ gồm "bốn người rưỡi", hàng chục giảng viên trên khắp thế giới và một văn phòng ở đường Gandhiova (theo tên Ghandi) ở đô thị Belgrade Mới. Người ngồi trong góc phòng là nhân viên Canvas vừa mới trở về sau chuyến đi đến Tunisia thu thập dữ liệu để nhằm giúp đỡ những nhà lãnh đạo mới trong thời kỳ quá độ sau Ben Ali. Djinovic đi lại trong văn phòng, vừa ăn sandwich vừa nói về việc nhắm vào các trụ yếu trong xã hội để giật sập các chính quyền độc tài. Có người nào đấy đang nói về Mohamed Adel, nhà hoạt động dân chủ Ai Cập thuộc tổ chức Ngày 6 tháng Tư, người đã đến Belgrade để theo học với nhóm Canvas vào năm 2009. Trong phòng có bảng trắng liệt kê những nơi họ đang nhắm đến kế tiếp, và từ đâu đó phát ra trầm lắng tiếng nhạc của băng nhạc Talking Heads. 

Tưởng chừng như ta đang ở trong một quán cà phê ở Seattle chứ không ở trong văn phòng nhộn nhịp của những nhà cách mạng. Tôi hỏi họ làm thế nào họ đã báo tin từ nơi tí tẹo này đến Quảng trường Tahrir? Tại sao những người ở tận Yemen và Algeria đang nói về họ? 

"Khi mọi người nghe tin những người Serbia đến," Popovic cười,"họ muốn gặp chúng tôi, họ muốn biết làm thế nào chúng tôi thành công. Chúng tôi có thể kể họ nghe những gì đã thành công đối với chúng tôi, những gì đã không thành công ở Georgia, những gì đã thành công ở Ukraine. Chúng tôi cảm thấy có trách nhiệm chia sẽ kiến thức của mình." 

Anh nói đùa rằng anh thấy mình như nhân vật Frodo trong tác phẩm Chúa tể của những chiếc nhẫn: "Tôi không đòi là mình phải có chiếc Nhẫn nhưng khi tôi có nó chúng tôi phải giao nó," anh nói đùa với vẻ mặt trang nghiêm. Trong căn hộ của mình ở Belgrade, Popovic có một nơi "thờ phụng" tác giả J. R. R. Tolkien và một chiếc Nhẫn vàng tương tự móc vào sợi dây chuyền - hình tượng của anh về một thế giới dân chủ. Chiếc nhẫn nằm trong ly uống rượu bám đầy bụi dưới tấm bản đồ Middle- earth. " Tolkien có viết một câu rất hay," anh nhắp rakija, loại rượu Serb mạnh được ưa chuộng, và nói." Ngay cả những người nhỏ bé nhất cũng có thể thay đổi thế giới." 

Slobodan Homen, một cựu thành viên Otpor khác mà cuộc đời đã mãi mãi thay đổi sau khi dấn thân vào phong trào, đã rời nhóm và gia nhập chính quyền đương thời dưới sự lãnh đạo của tổng thống Boris Tadic với cương vị thứ trưởng bộ tư pháp. 

các bạn trẻ trong tổ chức Otpor biểu tình "câm" ở Belgrade 
"À, những ngày hạnh phúc tươi sáng của Otpor," Homen cười và uống một hơi Coke Zero. Homen không giống như bất kỳ bộ trưởng nào tôi đã có dịp gặp. Anh đeo bông tai kim cương, áo sơ mi nhàu nát, không cà vạt và hút thuốc Marlboro Lights trong toà nhà công cộng mà ghi rõ ràng "Không hút thuốc" (theo luật, tiền phạt nặng). Đây chính gần như là thái độ "thách thức quyền lực" đã lật đổ Milosevich. 

Vào thời ấy, chính người mẹ khá giả của Homen đã cho Otpor mượn căn hộ của bà ở trung tâm Belgrade khi phong trào thiếu sự tổ chức ban đầu phát triển từ một nhóm nhỏ những người bạn lên đến gần 70.000 người. Luôn bị cảnh sát theo dõi và đánh đập, bọn trẻ Otpor làm việc 12 giờ mỗi ngày, và sống chủ yếu nhờ cà phê và thuốc lá. 

"Mục tiêu chính của chúng tôi," Homen hồi tưởng," là phải chỉ cho dân chúng biết rằng họ có thể thay đổi chế độ. Ban đầu chúng tôi làm cho Milosevich lo sợ. Từ đấy chúng tôi tiến đến lật đổ chế độ." Họ dùng đồng thời một loạt những công cụ tiếp thị tài tình- từ lô gô nắm đấm nổi danh trước đây của Otpor giờ được dùng cho Canvas, những khẩu hiệu độc đáo của họ, những cách quảng cáo mới mẻ tân thời trên ti vi -và đến các chiến thuật đường phố, chẳng hạn vào ngày nhật thực toàn phần họ đặt một kính viễn vọng rất lớn và cho người ta thấy khuôn mặt của Milosevich cùng với khẩu hiệu " Đời y tàn rồi!" 

Homen thú nhận rằng họ không bao giờ thực sự tin họ có thể thành công - nhưng họ đã thành công. "Nhờ thành công nên hôm nay tôi tin rằng trách nhiệm của chúng tôi là phải đi khắp nơi trên thế giới để khích lệ mọi người qua tấm gương của mình," Homen nói. " Nhưng tuỳ thuộc vào chế độ của mỗi nhân dân. Mỗi khu vực đều khác nhau." 

Sau khi tôi rời văn phòng của Homen, tôi đi gặp người thiết kế lô gô nắm đấm. Cũng ngày hôm ấy tôi nhìn thấy trên báo bức hình chụp một người phụ nữ Ai Cập mang nắm đấm Otpo đi quanh Quảng trường Tahrir, và tôi hỏi Duda Petrovich, bây giờ 37 tuổi và cha của hai con, anh cảm tưởng ra sao khi đã tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ như thế. 

"Tôi nào có ngờ nó sẽ trở thành quan trọng đến như vậy," anh vừa nói vừa dụi tàn thuốc và đưa tay với lấy điếu khác. "Tôi vẽ nó không phải vì lý tưởng, mà vì tôi yêu cô gái trong nhóm Otpor người đã nhờ tôi vẽ." Không ai dấn thân vào cách mạng vì tiền hay danh vọng. Petrovich đã không đăng ký bản quyền thiết kế nắm đấm của anh, hiện nay hình ảnh ấy đang rao bán trên các trang mạng ở Mỹ, được in trên áo, trên ly tách, áp phích". 

"Tôi làm biếng kiện cáo," anh tâm sự. "Hơn nữa tôi vẽ nó cho các bạn thân nhất của mình. Và bây giờ hình ảnh ấy được dùng để tranh đấu cho tự do. Ai đời lại đi tính tiền chuyện ấy." 

Giống như những người tôi có dịp trò chuyện, Petrovich cho biết Otpor đã thay đổi đời mình." Trước đây ở Serbia mọi thứ đều thê lương u ám. Nào chiến tranh, lạm phát, nào bị trừng phạt," anh nói." Rồi bất ngờ bỗng dưng xuất hiện sinh lực này. Thật là một câu chuyện đẹp. Một câu chuyện của đời mình." 

Tôi cũng nhớ những ngày chiến thắng ấy. Tôi đến phi trường Belgrade vào lúc cao điểm của các cuộc biểu tình và mở điện thoại di động. Hiện lên là tin nhắn về Milosevich -Gotov je -đời y tàn rồi. Tôi bật cười vì tôi biết tin nhắn từ bọn nhóc Otpor. Nửa giờ sau tôi nhận hơn 10 tin nhắn nữa, vẫn cùng nội dung. Gotov je. 

Nhóm trẻ cũng nhận thức rằng họ có thời cơ -thường đánh dấu thời điểm xuất hiện của bất kỳ cuộc cách mạng nào. Thời cơ ấy có thể là giá dầu tăng vọt, thiên tai hay vụ ám sát khiến quần chúng do phẫn nộ mà sát cánh với nhau. Trong trường hợp của họ, Milosevich kêu gọi tổ chức bầu cử. Hàng loạt các cuộc đình công lớn diễn ra sau đó. 

Sau khi họ buộc Milosevich rời bỏ quyền lực, các nhà lãnh đạo Otpor nhận được những lời kêu gọi mong được giúp đỡ từ các nhà hoạt động dân chủ ở nhiều nước khác. Nhưng cuối cùng trong vai trò đảng chính trị Otpor tàn lụi dần, nên Djinovic và Popovic quyết định thành lập Canvas, xem nó như là một tổ chức giáo dục 

Công việc giảng dạy của họ như sau: các nhà hoạt động dân chủ sẽ nghe tiếng Canvas (" Đây là một thế giới nhỏ, thế giới của đấu tranh bất bạo động," một nhân viên nhận xét) và đến Belgrade. Vào năm 2009, Mohamed Adel đang hoạt động với phong trào ngày 6 tháng 4 ở Cairo, nhưng cảm thấy bế tắc. Anh đã xem cuốn băng lậu Đánh Gục Nhà độc tài, một cuốn phim tài liệu thực hiện vào năm 2001 mô tả cuộc đấu tranh của Otpor, liền liên lạc với những người Serbia. Anh theo học vài tuần ở Belgrade vào tháng Tư năm 2009, học xử dụng "biểu đồ quyền lực" (do Djinovic nghĩ ra) để tìm ra điểm yếu trong chính quyền (trong trường hợp Ai Cập, điểm yếu ấy là quân đội), làm thế nào nhắm vào truyền thông và các thể chế khác, và làm thế nào để đối phó lại bằng bất bạo động. 

Khi Adel về lại Cairo, anh mang theo nhiều cuốn phim Đánh Gục Nhà độc tài kèm phụ đề tiếng Ả Rập, cùng nhiều sách giáo khoa Canvas. Rồi anh phổ biến rộng rãi ra. Ngay trước khi Mubarak sụp đổ, truyền đơn mà nội chủ yếu dựa theo những điều giảng dạy của Canvas được in ra ở Cairo, nội dung chính là, như Popovic chỉ ra, " kết thân với cảnh sát và duy trì sự tuân thủ bất bạo động". 

"Gandhi phải mất 30 năm để lật đổ chế độ; chúng tôi mất 10 năm; người Tunisia mất một tháng rưỡi; và người Ai Cập mất 19 ngày," Popovic nói. "Đây quả thật là trận đánh thần tốc của dân chủ." 

Sau đó trong ngày hôm ấy, chúng tôi đến trường đại học tổng hợp Belgrade để thăm quan phân khoa họ đang thiết lập nơi những sinh viên sau đại học có thể theo học để lấy bằng thạc sĩ về môn chiến lược và các phương pháp thay đổi xã hội bằng bất bạo động. Popovic, giáo sư thỉnh giảng ở đấy, đưa tôi đến truờng trong chiếc xe Mercedes màu xanh ngổn ngang đồ đạc mang biển số 007. 

Một chị bạn kể tôi nghe chị mới đây thấy Popovic tại buổi tiệc sinh nhật của một người bạn và suốt buổi tối ở đấy anh cứ ngồi trước ti vi theo dõi các cuộc biểu tình ở Ai Cập với nụ cười nở rộng trên mặt. Anh nói với tôi một khi thành công là thành công thật sự. 

Nhưng đấy là sự chọn lựa nghề nghiệp không bình thường: nhà cách mạng. Lúc bị kẹt trong dòng xe cộ dày dặc thường lệ, tôi hỏi anh tại sao anh đeo đuổi nghề cách mạng ấy, tại sao dành một phần ba của năm lặn lội đến tận những nơi xa xăm để giảng dạy những nhà hoạt động dân chủ. Là người trong gia đình có cha mẹ làm nghề báo, anh từng tâm sự khi lớn lên anh đã muốn đi vòng quanh thế giới để thực hiện những bộ phim về cá. Trái với thường lệ anh trầm tư một lát trong khi suy nghĩ câu trả lời. 

"Làm việc với các nhà hoạt động dân chủ là công việc tốt đẹp nhất trên hành tinh, " anh đáp." Những người này sẵn sàng chấp nhận biết bao rủi ro -họ không nghĩ về bản thân, mà nghĩ về cuộc đời của con cái họ hay cuộc đời của những thế hệ tương lai..." Anh cắt ngang hai xe khi anh chạy vào làn đường cao tốc. " Tôi không thể nói cho chị hiểu được tôi yêu công việc này biết bao nhiêu. Thấy những người chuyển từ sợ hãi sang say mê, từ tuyệt vọng sang quyết tâm ...thật tuyệt vời." 


Làm thế nào lật đổ nhà độc tài một cách ôn hoà 

Năm lời khuyên của Canvas: 

1. Hãy nghiên cứu kỹ: tức phân tích những trụ ủng hộ ta muốn kéo về phía ta ("những trụ" ở đây có nghĩa là những thể chế và tổ chức rất quan trọng cho sự thay đổi xã hội bằng bất bạo động) 
2. Đề ra một viễn kiến rõ ràng cùng với chiến lược cho cuộc đấu tranh -đừng lắng nghe lời khuyên từ nước ngoài 
3. Xây dựng sự đoàn kết trong phong trào -đoàn kết về mục đích, đoàn kết trong nhân dân, và đoàn kết trong tổ chức 
4. Duy trì sự tuân thủ bất bạo động - một hành động bạo động thôi có thể làm mất đi uy tín của cuộc đấu tranh 
5. Luôn luôn ở thế tấn công, hãy chọn những trận đánh ta có thể thắng và chắc chắn ta biết khi nào và làm thế nào công bố chiến thắng 

Nguồn: Financial Times 18/3/2011 

Janine di Govann, Trần Quốc Việt dịch 
Nguồn: Dân Làm Báo

Read more

8 tháng 12, 2011

Cách mạng: bạo động hay bất bạo động? (Hoàng Thục Vy)

0


Cách mạng hay cách mạng xã hội theo nghĩa rộng, được hiểu như một sự thay đổi sâu rộng trong xã hội nhằm biến cơ cấu cũ đã lỗi thời thành một cơ cấu mới tiến bộ và phù hợp trong một thời gian tương đối ngắn. Đó chính là những biến đổi mang tính chất cơ bản và trọng yếu trong bản chất của thượng tầng xã hội, chứ không phải những cải cách nhỏ mang tính thứ yếu trong một vài lĩnh vực cụ thể nào đó. Đây càng không phải là những đổi chác chính trị nhắm đến mục tiêu thay người lãnh đạo quốc gia của một nhóm người nhỏ (đảo chính).

Theo nghĩa hẹp, cách mạng chính là một biến cố chính trị lớn – thường được gọi là cách mạng chính trị. Cuộc cách mạng chính trị này sẽ dẫn đến những thay đổi toàn diện từ trật tự xã hội, chế độ chính trị của quốc gia đến tầng lớp những người lãnh đạo. Những cuộc cách mạng chính trị thường bắt đầu bằng những cuộc đấu tranh của đa số quần chúng nhằm lật đổ chế độ chính trị hiện thời để tạo điều kiện xây dựng một chế độ chính trị mới tiến bộ hơn.

Tính chất bạo lực

Khi nói đến cách mạng, chúng ta luôn liên tưởng ngay đến bạo lực. Những ai từng ngồi trong nhà trường xã hội chủ nghĩa đều thấm nhuần quan điểm rằng bạo lực cách mạng là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu trong việc giành chính quyền. Nhiều người phủ nhận Marx, cho rằng ông đã cổ súy bạo lực. Nhưng Marx đã đúng trong nhận thức về lịch sử chính trị đối với những giai đoạn trước khi chúng ta tạo dựng được những Nhà nước Hiến pháp trị.

Nhìn lại lịch sử, chúng ta không thể phủ nhận rằng hầu như bất cứ một cuộc thay đổi chế độ chính trị nào cũng đẫm máu. Ngay cả việc tạo dựng một định chế chính trị tiến bộ như sự hình thành Nghị viện Anh cùng với sự ra đời của bản Đại Hiến chương Tự do vào thế kỷ 13 ở Anh Quốc cũng chỉ đạt thành qua cuộc đấu tranh mang đầy bạo lực. Sau này vào thế kỷ 17, để thành lập được một thế chế quân chủ lập hiến ở Anh với Nghị viện kiểm soát quyền lực của nhà Vua cũng phải trải qua cuộc Nội chiến và cuộc Cách mạng Vinh quang (Glorious Revolution) đẫm máu. Cuộc Cách mạng Pháp – một chuyển biến chính trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử nước Pháp, với sự ra đời của Hiến pháp 1791, xóa bỏ chế độ phong kiến không còn phù hợp với nguyện vọng người dân và tình hình kinh tế xã hội Pháp lúc bấy giờ, đã diễn biến trong một quá trình thậm chí còn phức tạp và đẫm máu hơn nữa. Và còn rất nhiều minh chứng khác – không chỉ có Marx – khi nghĩa đến cách mạng thì ai trong chúng ta đều nghĩ ngay đến những phong trào khởi nghĩa, những cuộc chém giết gay gắt giữa phe đại diện cho quần chúng và nhà cầm quyền đương thời.

Nhân loại đã phải trả những cái giá rất đắt, những tổn thương nhân mạng to lớn để đi từ những trang sử cổ đại đến thời hiện đại, vượt qua thời kỳ của chế độ nộ lệ, chế độ phong kiến mới có thể xây dựng được những Nhà nước dân chủ tiến bộ. Nhưng Marx đã mắc một sai lầm to lớn khi ông cho rằng nhân loại cần phải tiếp tục lật đổ, xóa bỏ những nhà nước dân chủ tư sản (theo cách gọi của ông) bằng những cuộc “cách mạng vô sản” với “bạo lực cách mạng”.

Thực tế cho thấy vào cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa cộng sản đã mê hoặc những quốc gia nghèo đói, trình độ dân trí thấp, nền công nghiệp nghèo nàn và chưa có đủ điều kiện phát triển, để “làm cách mạng”. Họ luôn hô hào xóa bỏ chủ nghĩa tư bản nhưng thực tế họ cũng chỉ xóa bỏ được chế độ phong kiến, cùng với sự hỗ trợ đắc lực của tình hình xã hội đương thời đang chất chứa những quả bom bất mãn chỉ chờ thời cơ là phát nổ.

Chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn không “làm cách mạng” thành công ở những xứ sở có truyền thống pháp trị và tự do. Chúng ta có thể thấy cách mạng chính trị, tức sự thay đổi chế độ chính trị không thể xảy ra ở những nơi người dân có thể dùng lá phiếu để thay đổi chính phủ. Các thể chế dân chủ tự do chỉ có khủng hoảng chính phủ chứ hoàn toàn không hề có khủng hoảng chế độ. Vậy nơi nào có sự chuyên quyền thì nơi đó có cách mạng, mức độ chuyên quyền càng cao thì khả năng xảy ra sự phản kháng bằng bạo lực càng lớn.

Một lý thuyết đấu tranh mới


Đầu thế kỷ 20, thế giới chứng kiến cuộc đấu tranh dành độc lập của nhân dân Ấn Độ từ tay Anh Quốc với hình thức đấu tranh bất bạo động đầy ngoạn mục dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi. Từ đó, chúng ta có một phương thức đấu tranh mới, làm thay đổi nhận thức đấu tranh của những nhà cách mạng thời hiện đại.

Tác phẩm Từ độc tài đến Dân chủ của Gene Sharp đã phân tích khá toàn diện và cụ thể việc tổ chức và tiến trình của một cuộc cách mạng bất bạo động. Như một bài đã viết cách đây khá lâu, là một Phật tử, tôi cho rằng đây là phương pháp đấu tranh đầy nhân bản và mang lại nhiều niềm hi vọng cho các dân tộc đang sống dưới các chế độ độc tài, tạo cơ hội cho quần chúng “tay không tất sắt” có thể đoàn kết sức mạnh chống lại những chính quyền độc tài vũ trang hùng mạnh.

Gần đây, đối với những người đang cổ vũ cho phương pháp đấu tranh “bất hại” này, niềm tin và lý luận của họ lại một lẫn nữa được khẳng định khi có thêm những minh chứng hùng hồn cho việc thực hành một cuộc đấu tranh bất bạo động của quần chúng với sự sụp đổ của hai thể chế độc tài ở Tunisia và Ai Cập. Dù có thương vong, nhưng người dân hai nước này đã thành công bằng các cuộc xuống đường không vũ trang để phản đối và cuối cùng hai nhà độc tài Ben Ali và Mubarak phải rời khỏi chiếc ghế quyền lực. Trong khi đó, tình hình tại Libya có vẻ ngược lại và phức tạp hơn nhiều. Phong trào chống chính phủ đã trở thành cuộc nổi dậy vũ trang kéo dài cho đến hôm nay vẫn chưa ngả ngũ.

Có ai trong chúng ta đã tự hỏi vì sao có sự khác nhau ấy? Dù là các quốc gia ấy thuộc thế giới Ả Rập có nhiều điểm tương tự về cơ chế chính trị, lấy nền công nghiệp dầu khí là trụ cột kinh tế quốc gia, và đất nước đang rơi vào tình trạng kinh tế khó khăn, thất nghiệp tăng cao…, nhưng cuộc phản kháng của người dân Libya đã diễn ra theo một kịch bản hoàn toàn khác so với sự thành công của Tunisia và Ai Cập. Phải chăng chính những người lãnh đạo và những người tham gia đấu tranh không thể tự quyết định được phương pháp và chiều hướng đấu tranh? Đây mới là câu hỏi thực sự mà chúng ta nên tìm hiểu, phân tích.

Những yếu tố chi phối tính chất cuộc đấu trash

Trong trình độ tri thức hạn chế của mình, người viết cho rằng ở đây chắc hẳn phải có những yếu tố khách quan vô cùng quan trọng chi phối con đường đấu tranh của người dân chống lại độc tài, các điều mà những nhà đấu tranh không thể can thiệp bằng ý chí chủ quan (ý chí chủ quan thể hiện qua trình độ tổ chức đấu tranh và ý thức chính trị của những người tham gia đấu tranh).

Với Libya, chúng ta thấy Gadhafi là nhà độc tài sắt máu và ngoan cố hơn hẳn Ben Ali và Mubarak. Trong một thời gian dài, chế độ Gadhafi được nhiều nước xem là một chế độ khủng bố, còn bản thân cá nhân Gadhafi bị Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan gọi là “con chó dại”. Đó chính là yếu tố đầu tiên tôi muốn nhắc đến – bản chất và mức độ độc đoán, tham quyền cố vị của nhà độc tài hay nói chung là chế độ độc tài sẽ chi phối nổ lực, thời gian và chiều hướng đấu tranh của chúng ta. Tiếp đến là sức mạnh nội tại của chế độ. Chế độ độc tài càng mạnh, sự đoàn kết nội bộ của họ càng cao thì khả năng ra đi của họ khi có một cuộc phản đối bất bạo động của người dân càng thấp.

Ngoài ra, mối liên kết chế độ độc tài với các thế lực bên ngoài, quan hệ mật thiết về ngoài giao và phụ thuộc chính trị vào cường quốc nào đều là những điểm quan trọng. Nếu “đàn anh” ngoại giao của họ là một nước có thể chế chính trị tiến bộ, có ý thức hệ phóng khoáng thì khả năng nhượng bộ tăng lên và khả năng đàn áp bằng vũ trang giảm xuống, so với việc “đàn anh” của họ là một nước có chế độ chính trị cực đoan và độc tài hà khắc. Có thể thấy rằng Mubarak là vị tổng thống độc tài nhưng được người Mỹ ủng hộ, vì thế sự ra đi của ông tương đối êm thấm hơn.

Điều tiếp theo cần được xem xét là mức độ phẫn uất của lòng dân. Mức độ căm phẫn được quyết định bởi mức độ bất công xã hội, hố ngăn cách giàu nghèo, tình trạng tội tệ của nền luật pháp, hạn chế các quyền tự do, số lượng những hành động làm tổn hại quốc gia và dân tộc của chính quyền, và mức độ tổn thương của lòng dân…. Sự phẫn uất do những yếu tố nói trên gây ra và nung nấu trong lòng dân càng lâu dài và càng lớn thì nguy cơ bạo động càng gia tăng. Bởi sự căm giận của lòng người như một quả bom, nó càng lớn thì mức độ công phá và thiệt hại càng nhiều.

Cuối cùng điều phải kể đến là cục diện chính trị quốc tế. Nếu xu hướng tự do dân chủ trên thế giới ngày càng vững mạnh, các chế độ độc tài ngày càng yếu và ít đi, một số các cường quốc bất hảo rơi vào khủng hoảng thì các chế độ độc tài sẽ phải xem xét lại sự thiệt hơn giữa một cuộc ra đi bình yên hay tiếp tục ngoan cố để trở thành tội đồ của cả dân tộc.

Tình hình Việt Nam

Riêng về tình hình Việt Nam, tôi thiễn nghĩ Việt Nam giống Trung Quốc nhiều hơn so với các quốc gia Ả Rập kể trên. Khi đánh giá tình hình, tôi hi vọng những người hoạt động dân chủ hãy so sánh tình hình nước ta với Trung Quốc để nhận ra những bất lợi và thuận lợi, chứ không so sánh với những nơi cách mạng vừa thắng lợi ở Bắc Phi . Việt Nam và Trung Quốc tuy khác nhau về diện tích lãnh thổ và quy mô chính quyền nhưng lại có nhiều điểm tương đồng: chế độ chính trị, ý thức hệ của giai tầng lãnh đạo, cách thức và mức độ siết chặt các quyền tự do, bản chất nền kinh tế, tình trạng bất công xã hội… Có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam là mô hình thu nhỏ của Trung Quốc. Thêm vào đó, ta nhận thấy ở đây một sự phụ thuộc về chính trị và sự tồn vong mang tính liên đới giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tất nhiên cuộc Cách mạng Hoa Lài đã mang lại cho nhiều người niềm cảm hứng và hi vong to lớn về một thế giới không độc tài, về tiền đồ dân chủ tự do của Việt Nam, bởi chúng ta đã cảm nhận sâu sắc rằng sức mạnh của ý chí và sự đoàn kết của người dân Bắc Phi một lần nữa đã minh định khao khát tự do của nhân loại là không gì cản nổi.

Theo một số nhà quan sát thời cuộc thì Việt Nam chưa thể có một cuộc cách mạng tương tứ Bắc Phi vì sự quan tâm chính trị của người dân chưa cao, và sự thiếu vắng một lực lượng đối lập mạnh cùng với một trình độ tổ chức cần thiết. Điều đó có thể đúng, nhưng đó chỉ xét về mặt chủ quan mà chưa để tâm đến tình hình khách quan; đó cũng là sự tùy thuộc và ảnh hưởng  lẫn nhau rất nhiều ở mọi quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa này.

Khi nào Trung Quốc rúng động vì sự nổi dậy của người dân thì đó cũng là lúc cho chúng ta hy vọng một cuộc “đổi đời” trong tầm tay. Đây không phải là sự bắt chước, rập khuôn mà là sự suy xét mối tương quan tồn tại và tình hình thực tế khách quan giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thiết nghĩ, sự phát hiện đúng thời cơ và hành động đúng thời điểm là một yếu tố cực kỳ quan trọng cho mỗi thắng lợi. Và việc cuộc cách mạng tương tự (ở Việt Nam) sẽ xảy ra trong bạo động hay bất bạo động tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan nằm ngoài ý chí của tất cả chúng ta.

Trên đây chỉ là những ý kiến gợi mở và chắc chắn bài viết còn nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi. Bài viết chỉ nhằm trình bày quan điểm và những ưu tư của cá nhân tác giả. Chúng tôi – thế hệ 8x, vẫn còn quá trẻ để có một tầm nhìn mang tính chiến lược về con đường dân chủ hóa Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi trông cậy rất nhiều vào những bậc trưởng thượng – những người sẽ vạch ra con đường và dẫn dắt chúng tôi, để từ đó chúng tôi có cơ hôi đóng góp sức mình cho đất nước và biết được mình sẽ phải làm những gì. Bởi nếu những người đi trước nhầm đường thì cả dân tộc sẽ khốn đốn và những người trẻ chúng tôi sẽ gặp thảm họa.

Huỳnh Thục Vy
Ngày 13 tháng 3, 2011

Nguồn: Tạp Chí Phía Trước Số 44

Read more

5 tháng 12, 2011

Trò chuyện về đấu tranh bất bạo động (BBC Việt ngữ)

0

Đấu tranh không dùng bạo lực - như một phương cách phản đối, kháng cự hoặc can thiệp - là hiện tượng mang tính phổ quát, xảy ra nhiều trong lịch sử nhân loại.

Cách đấu tranh này có thể tiến hành qua các hình thức như viết báo, thư ngỏ, bất hợp tác, đình công…

Tại Việt Nam, nhiều người bất đồng chính kiến và đối lập hiện nay cũng nói họ đấu tranh theo phương cách bất bạo động.

Nhưng đấu tranh bất bạo động có hiệu quả đến đâu, trong những hoàn cảnh nào?

Gene Sharp, người sáng lập Viện Albert Einstein ở Boston, đã viết nhiều sách về đấu tranh không dùng bạo lực.

Đài BBC hỏi ông vì sao ông cho rằng phương thức này có thể có hiệu quả.

Gene Sharp: Điều này còn tùy vào từng tình huống cụ thể. Ví dụ, trong những tình huống khắc nghiệt, khi quân đội được dùng để đàn áp dân chúng, những người lính có thể không muốn làm theo chỉ thị. Họ có thể chỉ bắn chỉ thiên, hoặc bỏ quân phục, gia nhập hàng ngũ quần chúng.

Hay một ví dụ khác về phương thức đấu tranh kinh tế, một sự tẩy chay có thể làm tê liệt nền kinh tế. Khi người dân không làm theo lời của chính quyền, chính quyền có thể không thi hành được ý muốn của mình. Có những hoàn cảnh khi mà các biện pháp này được áp dụng. Chúng có thể không thành công trong một số hoàn cảnh, nhưng nếu được hoạch định kỹ lưỡng, chúng có thể có cơ hội thành công. Ví dụ chính quyền của Slobodan Milosevic ở Serbia. Mặc dù là một nhà độc tài khắc nghiệt, nhưng kết quả Milosevic cũng bị lật đổ bởi người dân.

BBC: Tuy vậy, nhiều người cũng cho rằng đấu tranh bất bạo động chỉ thành công trước các đối thủ là chính quyền trong một đất nước đã có các định chế dân chủ?

Đó là một huyền thoại – nhiều người tin như thế, nhưng không chính xác. Nếu ta nhìn lại các nước Đông Âu và Baltic, tình hình những nơi này đã biến đổi mặc dù có chính quyền cộng sản bản địa ở đó, cộng thêm quân đội Liên Xô và mật vụ KGB. Phương thức đấu tranh bất bạo động đã chứng tỏ có thể hiệu nghiệm trước các chính quyền cộng sản.

BBC: Thế còn các trường hợp châu Á như Việt Nam và Trung Quốc? Ông có nghĩ rằng đấu tranh bất bạo động phụ thuộc vào môi trường văn hóa không?

Dĩ nhiên nó chịu ảnh hưởng. Tuy vậy, không có nghĩa là một số hình thức hành động không hiệu nghiệm nếu đặt trong một nền văn hóa khác. Một số hình thức đấu tranh bất bạo động có nguồn gốc châu Á. Lấy ví dụ là tẩy chay kinh tế. Gandhi thừa nhận ông học kỹ thuật này từ người Trung Quốc.

Các hình thức đấu tranh bất bạo động không phải lúc nào cũng thành công, nhưng đôi khi nó thành công. Ta cũng có thể nói một điều tương tự về bạo lực. Có nhiều trường hợp bạo lực thất bại, nhưng không có nghĩa là bạo lực không bao giờ thành công. Tranh đấu bất bạo động có thể thành hay bại phụ thuộc vào khả năng của những người thực hiện nó.

BBC: Tức là mức độ thành bại phụ thuộc vào khả năng của các nhà hoạt động?

Rất phụ thuộc. Nhiều cuộc đấu tranh bất bạo động đã bị phí hoài bởi những người không hiểu rõ mình đang làm gì.

BBC: Nhưng ông cũng cho rằng dạng thức đấu tranh này không cần có lãnh đạo lôi cuốn. Nhiều người lại nghĩ tại một số nước, phe đối lập yếu thế chính vì họ chia rẽ và không có một lãnh đạo có khả năng thu hút quần chúng.

Tôi nói như vậy bởi vì trong nhiều trường hợp, đã không có lãnh đạo có sức lôi cuốn. Cuộc cách mạng Nga 1905 suýt nữa đã lật đổ chính quyền Nga hoàng, và ta không thể nêu ra ai là lãnh đạo. Nhận xét này rất quan trọng.

Nếu người ta phụ thuộc vào một lãnh đạo nào đó, xem người đó như vị cứu tinh, và nếu nhà lãnh tụ ấy thất bại, hoặc trở nên tha hóa hay bị giết, cả phong trào sẽ sụp đổ. Nhưng nếu người dân hiểu được tính chất cuộc đấu tranh, làm thế nào đấu tranh hiệu quả, vì sao họ cần kiên định ngay cả khi bị đàn áp, thì cơ hội thành công sẽ lớn.

BBC: Ở những nước như Việt Nam, Trung Quốc hay Cuba, theo ông, đâu là những đòi hỏi cần có để phương thức đấu tranh bất bạo động có thể thành công tại đó?

Tôi không biết cụ thể về tình hình ở các nước đó, nên không thể dự đoán điều gì sẽ xảy ra. Nhưng nói chung, dựa trên những đặc điểm chung của đấu tranh bất bạo động và các ví dụ lịch sử, người ta có thể đặt giả thiết rằng phương thức này có thể thành công ở ba nước trên. Ví dụ ở Việt Nam đã từng có những cuộc tranh đấu do Phật giáo dẫn dắt.

Đòi hỏi thứ nhất là người ta phải hiểu rõ phương thức đấu tranh, và bằng cách nào có thể thực hiện nó cho hiệu quả. Kế hoạch lớn của họ là gì? Nhược điểm của chế độc toàn trị là gì? Mọi chế độ toàn trị đều có nhược điểm, và họ phải tìm ra. Rồi đâu là điểm mạnh trong dân chúng, bởi vì thông thường con người vẫn mạnh mẽ hơn là bản thân họ tưởng.

BBC: Còn mức độ hỗ trợ từ bên ngoài, một phong trào ở nội địa cần sự hỗ trợ ấy đến mức nào, khi mà các chính thể sẽ dùng nó để nói rằng họ là "tay sai ngoại bang"?

Đó là một lý do vì sao Gandhi đã phản đối sự giúp đỡ từ bên ngoài. Ông ấy nói “chúng ta không những không cần nó, chúng ta không muốn nó.”

Đầu tiên phải xây dựng phong trào theo cách nào đó để anh tự dựa vào sức của mình. Rồi anh có thể cần thêm tiền, ví dụ để in biểu ngữ, điều đó cũng được. Nhưng đừng để người ngoài kiểm soát phong trào.


Nguồn: BBC Việt Ngữ

Read more

4 tháng 12, 2011

Đấu tranh bất bạo động: tại sao không? (Phạm Hồng Sơn)

0

Không hoàn thiện là một đặc tính tự thân của thế giới tự nhiên. Nhưng đối với xã hội loài người, sự không hoàn hảo ngoài lý do tự nhiên, còn có thêm những lý do do chính con người gây ra, một cách vô tình hay cố ý. Hoàn thiện bản thân, hoàn thiện xã hội luôn là ước mơ, khao khát chính đáng của loài người từ hàng ngàn năm nay. 

Để ước mơ và khao khát chính đáng đó trở thành hiện thực, không có cách nào khác hơn là phải tích cực và chủ động đấu tranh với các nhân tố, thế lực đang gây ra hay giấu đi những yếu kém, khuyết tật, suy đồi của bản thân cũng như của xã hội. Vì vậy đấu tranh đã nghiễm nhiên là một đặc tính và là một bổn phận của mọi công dân trong các xã hội, kể các xã hội văn minh nhất. 

Tuyên ngôn Nhân quyền hay các Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc không chỉ là việc minh xác những quyền tối thiểu của con người trong một xã hội văn minh mà chính là sự cổ vũ, thúc đẩy cho mọi đấu tranh để các quyền đó đến được với tất cả mọi người. Đối với các xã hội mà nhà nước không phải do dân bầu lên, cuộc đấu tranh đó đương nhiên phải bức thiết và cam go hơn rất nhiều. Bởi quyền con người, dù có được thừa nhận tại những nơi đó, không chỉ thiếu hụt hay thực thi hời hợt mà nó còn bị các thế lực quyền thế kìm giữ cho riêng chúng một cách hung hãn.

Dùng sức mạnh cơ bắp hay vũ khí để bảo vệ bản thân chống lại cái ác đến từ đồng loại hay thiên nhiên là dạng đấu tranh có tính chất sơ khai, bản năng nhất của con người. Do đó một xã hội muốn thoát khỏi sự man rợ phải là một xã hội biết thừa nhận và cổ vũ các phương pháp đấu tranh bất bạo động - chỉ dùng lý lẽ và các cách thức ôn hòa để tạo áp lực nhằm cải biến, sửa chữa các khuyết tật của cá nhân, tổ chức hay toàn xã hội. Một nhà nước muốn xã hội văn minh hơn thì phải biết cổ vũ, khuyến khích các phương pháp đấu tranh bất bạo động. Một nhà nước muốn người dân thực sự là Con Người thì không bao giờ ngăn cản hay đe dọa các sáng kiến đấu tranh bất bạo động.

Các xô xát hay bạo lực có thể xảy ra trong các cuộc đấu tranh bất bạo động, trước tiên phải thuộc trách nhiệm nhà nước. Với một hệ thống pháp luật minh bạch và được thực thi đúng đắn, cùng với các phương tiện và nguồn lực khác, một nhà nước có thiện ý hoàn toàn có khả năng kiểm soát và ngăn chặn được mọi nguy cơ bạo lực có thể xảy ra trong các phương thức đấu tranh bất bạo động của dân chúng. Nếu một nhà nước thoái thác việc đảm bảo an ninh cho một cuộc tuần hành để phản đối sự nhũng lạm trắng trợn tiền thuế của dân hay một cuộc biểu tình ngồi trên quảng trường nhằm xiển dương lòng yêu nước trước sự ngang ngược của quốc gia láng giềng, nhà nước đó có còn đủ tư cách là một nhà nước của dân? Gánh thêm một nhiệm vụ có thể sẽ làm cho trách nhiệm của một nhà nước thêm phức tạp. Nhưng đổi lại, và chỉ có thế, nhà nước đó mới chứng tỏ được tính chất của dân, do dân và vì dân và, quan trọng hơn, nhà nước đó có thêm một sức mạnh để ngăn chặn hay loại bỏ các hư hỏng, khuyết tật lỳ lợm nhất của chính bản thân nó một cách hữu hiệu.

Đấu tranh bất bạo động đã chứng tỏ không chỉ đem lại được độc lập cho nhiều quốc gia bị thực dân đô hộ hàng trăm năm mà nó còn là phương thức để chuyển hóa nhiều chính quyền độc đoán, ác nghiệt, thiếu tự chủ sang chính quyền đa nguyên, nhân ái và tự chủ.

Đương nhiên vẫn có những cá nhân, thế lực, nhà nước không muốn dân chúng đấu tranh thực sự với các bất công, các khuyết tật của xã hội hay chế độ chính trị, dù là đấu tranh bất bạo động. Nhưng đối với người dân, không thể không tự tìm hiểu, nghiên cứu các phương pháp đấu tranh bất bạo động nếu không muốn bản thân và con cháu mãi vẫn ở trong cái vòng luẩn quẩn của áp bức, chiến tranh và lại áp bức.

Phạm Hồng Sơn
29/06/2009


Nguồn: Cao Trào Nhân Bản 

Read more

1 tháng 12, 2011

Đối đầu bất bạo động (Đỗ Thành Công)

0

Những vị thánh tiên phong

Thánh Gandhi được coi như hình ảnh tiêu biểu của đấu tranh bằng phương thức bất bạo động. Sinh ở Ấn, du học tại Anh Quốc và trở thành lãnh đạo đấu tranh cho nền độc lập dân tộc. Chủ trương triệt để đấu tranh bất bạo động, Gandhi nổi tiếng với câu nói “Nếu cứ trả thù theo cách mắt đổi mắt thì cả thế giới này rồi ai cũng bị mù”.

Cuộc cách mạng ở Ba Lan do Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan khởi xướng năm 1980-1981 và Cách Mạng Nhung Tiệp Khắc năm 1989 là những thí dụ điển hình của đối đầu bất bạo động. Một cuộc đối đầu mang ý nghĩa làm thay đổi cả một chế độ toàn trị.

Đối đầu bất bạo động gồm hàng loạt chuỗi đấu tranh bằng hình thức vận động Nhân dân đồng loạt xuống đường thể hiện ý chí phản đối, không tuân lệnh, không cộng tác và bất chấp các định chế của chế độ đương quyền.  Đây là phương thức khai dụng quyền lực của Nhân dân để đạt những mục tiêu bằng các hoạt động phản kháng ôn hoà.

Bất bạo động đối đầu bạo động

Trở ngại chính của đối đầu bạo lực là điều này đặt hai phía chỉ chú tâm vào mục tiêu phải đạt được chiến thắng, phải tìm cách trả thù hoặc tự vệ. Trong những tình huống này, trọng tâm của cuộc tranh luận nhằm giải quyết đối với những vấn nạn đã bị bỏ quên.  Vấn đề chỉ còn lại mang tính cấp bách là một bên dùng vũ lực để đàn áp và bên kia đối đầu lại cũng bằng vũ lực để tự vệ chính đáng. Trong bối cảnh đó, vấn đề thảo luận song phương nhằm tìm cách đối thoại, giải quyết đã bị bế tắc khi một bên chủ động tiến hành bạo lực.

Chiến lược đối đầu bất bạo động như Thánh Gandhi và Mục sư Martin Luther King, những người tiên phong trong kỷ thuật này,  đã từng tìm mọi cách tránh dẫn đến tình trạng bị đặt vào thế phải đối đầu bạo động.  Đấu tranh bất bạo động, hoàn toàn trái ngược với cách nhìn coi đó như biểu hiện của sự hèn nhát. Chiến lược đối đầu bất bạo động đòi hỏi sự dũng lược, tự chế cũng như tinh thần xã thân, chấp nhận bị đàn áp, chịu đựng đau đớn về thể xác và thậm chỉ cả cái chết. Sức mạnh của chiến lược đối đầu bất bạo động tiềm ẩn ở chính tinh thần chủ đạo “làm hỏng tính chính nghĩa và đạo đức của chế độ toàn trị, khi chủ trương bạo động để đối phó với tinh thần bất bạo động”.

Một khi tính chính thống bị đánh mất, ảnh hưởng dây chuyền kéo theo sự sụp đổ về mặt tinh thần, đồng thời còn bị phỉ nhổ và chia rẽ từ chính bộ phận đàn áp và bị áp lực lên án, tẩy chay từ cộng đồng quốc tế. Về ý nghĩa chiến lược, đối đầu bất bạo động là dùng sức mạnh của chính tinh thần bất bạo động, chống lại yếu tính bạo động dựa vào khả năng tự huỷ và tự tác động nội bộ của phía đàn áp. Nhiều kỷ thuật đối đầu bất bạo động đã được áp dụng hiệu quả nhằm chống lại chế độ toàn trị, bất hợp pháp, sử dụng bạo lực tùy tiện và vi hiến để đàn áp.

Để có được yếu tố thành công, quan trọng nhất là thái độ dũng cảm, sẵn sàng hy sinh của những người trong cuộc, tin tưởng sắt đá vào các nguyên tắc đấu tranh chính nghĩa và chiến lược thông tin toàn cầu nhằm phổ biến bản chất vô đạo và thú tính khủng bố, bạo động của những kẻ cầm quyền. Không thể kỳ vọng vào lòng phẫn nộ của đám đông khi họ không tận mắt chứng kiến cảnh sử dụng bạo lực. Vì vậy, nguyên tắc dẫn đến thành công trong mục tiêu là phải quảng bá tin tức phổ quát, sâu rộng và toàn cầu. Nó nằm ở chổ biết tận dụng những nhân chứng sống có mặt tại hiện trường và kỷ xảo của nghệ thuật thông tin. Kỷ thuật chuyển và nhận tin một cách hiệu qủa phải được đo lường bằng sự hiện diện và nhập cuộc của các phương tiện thông tin đại chúng qua báo chí, hệ thống truyền hình, đài và mạng lưới toàn cầu.

Có hàng trăm phương cách đối đầu bất bạo động. Mỗi cách có ưu và khuyết điểm riêng. Ông Gene Sharp, một nhà nghiên cứu hàng đầu về lãnh vực này đã tổng kết 198 hình thức đấu tranh bất bạo động, trong đó ông chia ra làm 3 lãnh vực tiêu biểu, từ nhẹ tới mạnh: Đối đầu bất bạo động bằng biểu tình và thuyết phục – Đối đầu bất bạo động bằng bất hợp tác – Đối đầu bất bạo động bằng trực tiếp phản ứng. 

Phương thức biểu tình, thuyết phục ôn hoà bao gồm các hành động như xuống đường, diễn hành, cầu nguyện, gồm tất cả những hành động phản kháng ôn hoà nhằm phản đối một điều luật vô lý, hay chính sách bất công. Mục tiêu thuyết phục phía chánh quyền thay đổi các dự luật, các chính sách nhằm phục vụ ý nguyện của đám đông.

Trong khi đó, phương thức mạnh hơn, đối đầu bất bạo động không cộng tác bao gồm từ chối tham dự những hoạt động bình thường diễn ra chung quanh đối với cá nhân, nhóm, tập thể, cở sở dân sự, công xưởng hay chính quyền đang là trọng tâm của cuộc đối đầu. Nhân dân từ chối trả tiền thuế vì không đồng tình với chính sách sử dụng tiền thuế của dân vào mục tiêu bất xứng, đình công, lãn công, từ chối làm việc hay tổ chức làm việc cầm chừng để bày tỏ thái độ không đồng tình trong môi trường làm việc nơi hãng xưởng, văn phòng nhà nước. Thậm chí có thể không tuân luật nếu nhân dân tin rằng luật này không công bằng, vi hiến và vi phạm đạo đức. Các hình thức đối kháng này liên hệ nhiều vào các lãnh vực xã hội, chính trị hay kinh tế, tất cả tuỳ thuộc vào điều kiện và đối tượng đang đối đầu.

Trong khi đó, phương thức đối đầu bất bạo động mạnh nhất là tích cực can thiệp, nhằm làm ảnh hưởng đến diễn tiến đối đầu từ phiá nhà nước. Thí dụ, các cuộc biểu tình ngồi trong cơ xưởng, văn phòng nhà nước, chận đoàn xe lửa, xe vận chuyển, tàu v.v… nhằm ngăn chận tiến trình vận hành của cơ chế đối đầu. Và quan trọng không kém mà Sharp đã nhấn mạnh, đó là phương cách “đối đầu can thiệp qua tác động tâm lý” bằng cách tuyệt thực cá nhân hoặc tập thể để gây tác động tâm lý.

Những hình thức trên, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện mà áp dụng đều tạo ra những tác động cụ thể. Bởi vì chính nó đã làm yếu đi tính hợp pháp và quyền lực của nhà nước. Sharp viết “Tự chính việc đối đầu bất bạo động đặt kẻ cầm quyền vào vị trí bị thử thách quyền lực của chính họ, làm yếu đi sức mạnh của bạo lực đồng thời tăng sức mạnh cho những kẻ đối đầu bất bạo động”.

Những chiến lược cần thiết cho cuộc biểu tình ôn hoà:

Cần hiểu, mục tiêu của các cuộc biểu tình chỉ nhằm tạo điều kiện cho sự thương thảo kín đáo giữa hai bên. Nơi đây không phải để soạn thảo các văn bản, thoả ước. Biểu tình chỉ là phương tiện để đạt được các mục tiêu khác, không phải là cứu cánh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp mục tiêu của những cuộc biểu tình không rỏ ràng, vì vậy điều khẩn thiết nhất đối với những người tổ chức, lãnh đạo là phải biết mình muốn gì. Nhiều khi có nhiều mục tiêu và mục tiêu bị biến đổi trong quá trình biểu tình. Nhiều thành viên trong đám đông có thể có những mục tiêu khác biệt, không giống mục tiêu nguyên thuỷ của đoàn biểu tình.

Biểu tình có thể gồm ba hình thức riêng biệt: Hình thức chuyển gửi thông điệp đến quần chúng, trong đó biểu tình để tận dụng phương tiện truyền thông.  Mục tiêu này thường bao hàm ý nghĩa “nếu đám đông cùng biết thì mục tiêu của tôi có thể sẽ đạt được”, kế đến là “nếu đám đông được giải thích cặn kẻ về mục tiêu đấu tranh và hiểu được bản chất sai lạc của vấn đề, họ sẽ thay đổi quan điểm của họ”. Nằm trong hướng như vậy, cuộc xuống đường biểu tình để đạt được cả hai ý nghĩa trên nhằm tác động vào đám đông.

Thứ hai, dự phóng một cuộc đối đầu. Vì tự bản thân của ý nghĩa hình thức biểu tình này là “chúng tôi muốn nhà cầm quyền phải biết vì những sai lầm họ đã tạo ra cho chúng tôi”.  Chúng tôi muốn có một cuộc đối đầu “mặt đối mặt” với đại diện của phía chánh quyền.

Hình thức sau cùng, biểu tình có thể diễn đến  tình trạng biểu tỏ sự “bức xúc” cao độ. Người biểu tình ở trạng thái tâm lý kích động và có nhu cầu cần bày tỏ nguyện vọng, thể hiện nỗi tức giận đã từng chịu đựng. Đây là giai đoạn người biểu tình sẽ biểu tỏ thái độ vì họ cần hành động cụ thể.

Nếu bạn là người trong cuộc, bạn cần tự hỏi chính bạn. “Đây có phải là phương tiện hữu hiệu nhất để đạt được mục tiêu của mình không?” Bạn cũng cần đặt lại vấn đề “Đây có phải là điều tôi quyết tâm theo đuổi không?” Và “Liệu cuộc biểu tình này có tác động để đạt được mục tiêu lâu dài không?”.

Là người tổ chức, bạn cần phải tự đặt mình vào vị trí này để lượng định phương cách và mục tiêu đấu tranh. Nếu bạn chỉ cần muốn đám đông nắm thông tin để đồng tình với mục tiêu đấu tranh của bạn, thì bạn phải hết sức tránh phương thức đối đầu. Mục tiêu của bạn là : Một cuộc biểu tình ôn hoà, trật tự và có tổ chức. Nằm trong dự phóng này, những khẩu hiệu, biểu ngữ đẹp, gọn và ăn mặc lịch sự sẽ làm cho cuộc biểu tình được cảm tình ban đầu của quần chúng. Phải lượng định rằng các hình ảnh của đoàn biểu tình sẽ lan truyền ra ngoài, chuyển gửi qua mạng toàn cầu đến tất cả những đối tượng quan tâm.

Nếu phải tổ chức một cuộc biểu tình ở dạng đối đầu.  Mục tiêu là nói thẳng vào mặt của những kẻ đàn áp. Bạn muốn cho đối tượng biết là bạn đã phẩn nộ đến cùng cực rồi và bạn sẽ không chiụ luồn cúi mãi nữa.  Phải có hướng giải quyết chứ không thể kéo dài tình trạng nửa vời.

Sau cùng thì hình thức bày tỏ sự “bức xúc” được thể hiện qua nhiều hình thức. Đoàn biểu tình có thể tự xích họ lại, có thể làm những điều ngoạn mục trên đường phố. Bạn không cần phải đạt mục tiêu, điều bạn muốn trong cuộc biểu tình là một chổ công cộng để đoàn biểu tình xả những phẩn nộ.

Để tác động hiệu quả, một cuộc biểu tình cần có những bài hát và lời kêu gọi, nó cũng cần những câu chuyện tình tiết và luôn cả huyền thoại. Những yếu tố này gây ảnh hưởng tốt lên đoàn biểu tình. Hãy cứ tưởng tượng cuộc biểu tình như những kinh nghiệm bạn cảm nhận trong các thánh lễ mang hình thức tôn giáo. Ở đó có những bài thánh ca, những lời giảng tôn giáo huyền bí. Khi đám đông bắt đầu bằng những bài hát có tính tập thể, họ dễ hoà lại với nhau, tình liên đới nảy sinh.

Một điều nữa cũng cần đề cập đến là những công an, mật vụ, những kẻ trực tiếp đàn áp và là “kẻ thù” của đám đông. Kinh nghiệm cho thấy là nhiều khi phải thay đổi mục tiêu lâu dài của cuộc đối đầu, chuyển qua đối tượng trước mặt, những kẻ đang đàn áp đám đông và đặt họ vào vị thế “kẻ thù”. Điều này chỉ có tính giai đoạn nhưng đôi khi cũng có tác dụng tích cực.

Cần phải mang bộ mặt nhân bản vì đám đông đang đối diện với hình ảnh xấu của những kẻ đàn áp. Các cuộc biểu tình thường xây dựng trên khái niệm bạn – thù, ác – thiện. Vì vậy, rất dễ để đi từ thái cực đấu tranh ôn hoà, bất bạo động chuyền sang bạo động khi hai bên trong tình trạng đối đầu. Những đột biến không kiểm soát có thể xảy ra không lường được. Một chai bom xăng, một tiếng súng nổ v.v…có thể tạo thành biến động lớn rất dễ dàng. Vì vậy, khi tổ chức một cuộc biểu tình, ban tổ chức, những người giữ vai trò lãnh đạo cần phải đặt ra mục tiêu, phương thức và sách lược cho đoàn biểu tình.

Những nguyên tắc căn bản trong cuộc biểu tình bất bạo động:

Theo Peter Ackerman and Christopher Kruegler nhận định trong tiểu luận – Những nguyên tắc của đấu tranh bất bạo động – Có mười hai nguyên tắc căn bản cần đặt trọng tâm khi tổ chức một cuộc biểu tình bất bạo động.

Đầu tiên, cần có một mục tiêu rõ ràng. Mục tiêu này phải xác định có thể đạt được trong một giai đoạn nhất định bằng phương cách không bạo động. Mục tiêu cần được đồng thuận từ cả nhóm, phản ánh quan niệm chung và có sự ủng hộ rộng rãi và nếu được sự đồng tình từ bên ngoài thì càng hữu ích hơn nữa.

Thứ hai, phải nắm được điểm mạnh và yếu của đoàn biểu tình, của từng phân nhóm về lãnh vực điều hành, lãnh đạo và tầm nhìn chung của đám đông. Để nắm được thắng lợi, một cuộc biểu tình đối đầu ôn hoà cần biết cách khai dụng lực lượng của nhóm, biết cách che đậy lực lượng của mình, biết phân tán nhân sự và biết tập hợp khi cần. Những người lãnh đạo phải có khả năng quyết định khi khẩn cấp, có khả năng vận dụng sự yểm trợ và ứng dụng hữu hiệu các quyết định.

Thứ ba, phải tính trước khả năng kiểm soát phương tiện. Phải dự trữ thuốc men, thực phẩm, nước uống và những nguồn vật liệu quan trọng khác để giữ khí thế của đoàn biểu tình. Phải có sẵn trong tay các phương tiện thông tin, liên lạc như máy photocopy, máy fax, máy chụp hình, điện thoại, điện toán, điện thư, face book, twitter v.v…

Thư tư, cần nuôi dưỡng các nguồn yểm trợ từ ngoài. Những trợ lực, thông cản của quần chúng  đối với đoàn biểu tình rất cần thiết để có thể đạt được ba mục tiêu ban đầu.  Nếu cần, phải dự tính cả kế hoạch chặn nguồn yểm trợ từ phiá đàn áp đoàn biểu tình.

Thứ năm, tính đến kế hoạch phát triển đoàn biểu tình. Linh động và thích ứng rất cần thiết để thành công. Khi quyết định một hình thức biểu tình, lãnh đạo đoàn cần dự phóng là hình thức này có thể mang lại thành tựu không? những sự chuẩn bị nào cần thiết và những yếu tố nào có thể mang đến bất lợi.  Cần tính đến khả năng phải hành động để vừa làm tăng cường sức mạnh của đoàn biểu tình và làm suy yếu phía đối tác.

Thứ sáu, vạch ra các nguyên tắc ứng phó khi đối đầu. Cần chủ động có kế hoạch để làm suy  yếu phiá đối phương về khả năng kiểm soát của họ. Càng làm cho đối phương khó khăn, thì càng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho đoàn biểu tình.

Thứ bảy, cần tránh đối đầu nhằm đẩy phía chánh quyền sử dụng bạo lực để đàn áp. Khi trở thành đối tượng bị đàn áp, tác động này làm suy yếu đám đông và kích thích bản năng bạo động từ phiá đoàn biểu tình. Nếu được, cần vượt ra khỏi tình trạng bị nguy hiểm, cần làm giãm khả năng đàn áp từ phía chánh quyền. Nếu bạo động, cần chuẩn bị tâm lý để giải quyết các hệ lụy xảy ra cho những nạn nhân và cả gia đình của họ.

Thứ tám, khai dụng thái độ đàn áp, khủng bố của chính quyền để làm cho kẻ đàn áp bị tảy chay, xa lánh và khinh miệt. Công bố và làm rộng các âm mưu, kế hoạch đàn áp, vạch trần bản chất bạo động chống lại tinh thần bất bạo động của đoàn biểu tình.

Nguyên tắc thứ chín là tập trung vào việc tự kiểm soát tình trạng đấu tranh bất bạo động. Khi thể hiện đối đầu bằng hành động bất bạo động, điều này không chỉ làm cho phiá đối tác bị mất đi chính nghĩa mà còn tạo cho đoàn biểu tình tư cách hợp pháp, chính thống, được cãm tình và nâng sức mạnh. Nếu vì bất cứ lý do gì, đoàn biểu tình rơi vào tình trạng bạo động, chính họ đã làm hỏng uy tín và tạo điều kiện thuận lợi cho những kẻ đàn áp lý do để sử dụng bạo lực. Càng giữ được kỷ luật đối đầu không bạo động, càng tăng thêm sức mạnh chịu đựng nhằm áp lực ngược lên phía chính quyền.

Điều thứ mười, chú tâm vào việc tìm hiểu bản chất của sự đối đầu. Cần rà xét lại 5 nguyên tắc của cuộc biểu tình gồm: mục tiêu, điều hành, chiến lược, chiến thuật và tiếp vận. Trong khi không sao lãng bản chất của cuộc biểu tình là đối đầu bất bạo động, cần dự phóng các tình huống bất thường xảy ra trong các cuộc biểu tình.

Thứ mười một, đối đầu bất bạo động phải bao gồm “điều chỉnh chiến lược công và phòng thủ hữu hiệu nhằm ứng phó từng giai đoạn liên hệ đến phía chính quyền”. Tấn công sẽ làm yếu khả năng đàn áp từ phía đối tác, ngược lại những hành động phòng thủ sẽ làm cho đoàn biểu tình đủ sức chống trả khi cần.

Sau cùng, điều thứ mười hai, các nhà lãnh đạo cần nắm vững nguyên tắc là đối đầu bất bạo động không những là mục tiêu của đoàn biểu tình mà còn phải làm cho phía đàn áp chấp nhận nguyên tắc này thành mục tiêu của họ.

Trong tình huống bất ngờ, phiá chánh quyền có thể nhượng bộ. Họ có thể đồng tình với mục tiêu của đoàn biểu tình. Họ có thể chấp nhận các đòi hỏi của đoàn biểu tình. Họ có thể không tiếp tục nổi thái độ đàn áp và đi theo đoàn biểu tình. Họ cũng có thể không còn hiện hữu nữa để chống lại những yêu sách chính đáng của đoàn biểu tình.

Đỗ Thành Công
—————————————–
Tài liệu tham khảo và chuyển dịch:
- Non-Violent Struggle: University of Colorado, USA
- Conflic Research Consortium: – Constructive Demonstration Strategies and The Principles of Strategic Nonviolent Conflict
- The Politic of Nonviolent Action – Gene Sharp


Nguồn: Đàn Chim Việt Online 

Read more